GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI
  • Cập nhật: 03/03/2021
  • Lượt xem: 3233 lượt xem

Ngày 19/6/2020, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI

Luật Tổ chức Quốc hội được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta. Sau hơn 03 năm thi hành, Luật Tổ chức Quốc hội đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi hành Luật thời gian qua cũng đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập, như: quy định tiêu chuẩn về quốc tịch đối với đại biểu Quốc hội còn chưa thật cụ thể; các nội dung liên quan đến công tác quản lý cán bộ đối với đại biểu Quốc hội hiện được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, chưa rõ trách nhiệm phân công, phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ ở trung ương và địa phương theo phạm vi phân cấp; chưa có quy định về phê chuẩn việc cho thôi giữ chức vụ Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội…

Trước yêu cầu cụ thể hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (sau đây gọi là Nghị quyết số 18-NQ/TW), Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Kế hoạch số 735-KH/ĐĐQH14 ngày 18/01/2018 của Đảng đoàn Quốc hội đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ phải sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có Luật Tổ chức Quốc hội để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Vì vậy, để thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, khắc phục các hạn chế, bất cập trong việc thi hành Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội là cần thiết.

II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội trên cơ sở quán triệt các mục đích và quan điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 18-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW, Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội theo hướng chỉ quy định mang tính khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này; còn những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thì do các luật về từng lĩnh vực quy định, tránh việc một nội dung mà có nhiều văn bản cùng điều chỉnh.

Thứ ba, chỉ xem xét sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã có chỉ đạo rõ, những vấn đề đã chín muồi, có nhu cầu cấp thiết trong thực tế nhằm cụ thể hóa các chỉ đạo, kết luận của Trung ương và xử lý việc thiếu thống nhất trong một số quy định giữa các luật, đồng thời đã có sự đồng thuận, thống nhất cao. Đối với những vấn đề còn ý kiến khác nhau hoặc chưa đánh giá hết được tác động khi thực thi thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để sửa đổi, bổ sung vào thời gian thích hợp.

III. PHẠM VI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI

Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể là: (1) Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, giảm hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp; (2) Quy định số lượng với tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo hướng giảm số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực; (3) Sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả; (4) Nghiên cứu thực hiện hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân thành một văn phòng tham mưu giúp việc chung.

Trong những chủ trương về tổ chức và hoạt động của Quốc hội đã được nêu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, có nội dung có thể quy định ngay trong luật, nhưng cũng có những nội dung nên được xác định, cụ thể hóa thông qua các văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc trong đề án cụ thể gắn với từng nhiệm kỳ Quốc hội. Hơn nữa, những vấn đề đã đưa vào dự thảo nhưng trong quá trình thảo luận, cho ý kiến còn nhiều ý kiến khác nhau hoặc chưa đánh giá hết được tác động khi thực thi thì cũng cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để sửa đổi, bổ sung Luật vào thời gian thích hợp. Vì vậy, tại lần sửa đổi này, Quốc hội chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung một số nội dung đã có sự đồng thuận, thống nhất cao trong phạm vi quy định của Hiến pháp để có thể thực hiện được ngay, bảo đảm tính ổn định của Luật và của công tác cán bộ, tổ chức bộ máy nhà nước.

Với tinh thần đó, phạm vi sửa đổi, bổ sung tập trung vào các nội dung về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, kinh phí hoạt động và bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội, một số quy định liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tên gọi, cơ cấu và trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Các nội dung sửa đổi, bổ sung này được bố cục trong 02 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung 20 Điều của Luật Tổ chức Quốc hội và Điều 2: Hiệu lực thi hành.

IV. CÁC NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CỤ THỂ

Các nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể trong

file đính kèm

.

Ban Biên tập